THỜI GIAN LÀ VÀNG

LỊCH

Tài nguyên dạy học

NHẮN VỚI XUÂN SANG

Hỗ trợ Online

  • (Dương Xuân Sang 0971.35.35.45)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    270.jpg Images_23.jpg Diendanhaiduongcom19072_23.jpg 535587_346776165442251_1103757000_n1.jpg LOI_RU.swf SAM_0366.jpg SAM_03691.jpg SAM_0369.jpg Chucmungnammoi2013_ngayxuanlongphuongxumvay.swf Hinh_nen_nam_moi_2013_11.jpg Bannertet2013.swf Tai_xuong_16.jpg BaicavioletTHD.swf Sntrungkien.swf Tan_co_loi_thu_xua.swf DEM_TRUNG_THU.swf

    Cảm ơn các thành viên

    3 khách và 0 thành viên

    Báo Mới

    Sắp xếp dữ liệu

    NHẠC QUÊ HƯƠNG TÔI

    LIÊN KẾT

    CẢM ƠN QUÝ THẦY CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ ỦNG HỘ WEBSITE CỦA DƯƠNG XUÂN SANG TRONG THỜI GIAN QUA

    HOÀNG CẦM

    HOANG_CAM
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Ngô Thị Hồng Thanh (trang riêng)
    Ngày gửi: 11h:00' 19-05-2010
    Dung lượng: 16.8 KB
    Số lượt tải: 0
    Mô tả:

    Tiểu sử

    Thi sĩ Hoàng Cầm có tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922, tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; quê gốc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

    * Xem thêm về thi sĩ Hoàng Cầm qua những tác phẩm, đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà. Hoàng Cầm- Nhân văn giai phẩm.

    Ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời. Thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh; đến năm 1938, ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm.

    Ông nổi tiếng với vở kịch thơ Hận Nam QuanKiều Loan và các bài thơ Lá diêu bôngBên kia sông Đuống. Bài thơ Bên kia sông Đuống được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông.

    Ngoài bút danh Hoàng Cầm ông còn có các bút danh: Bằng Việt, Lê Thái, Lê Kỳ Anh, Bằng Phi.

    Viết ra đây hai bài thơ nổi tiếng của tác giả coi như tưởng nhớ đến Thi sĩ

    Bên kia sông Đuống

    Sông Đuống hoàng hôn

    Em ơi!

    Buồn làm chi

    Anh đưa em về bên kia sông Ðuống

    Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ

    Sông Ðuống trôi đi

    Một giòng lấp lánh

    Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ

    Xanh xanh bãi mía bờ dâu

    Ngô khoai biêng biếc

    Ðứng bên này sông luyến tiếc

    Sao xót xa như rụng bàn tay

    Bên kia sông Ðuống

    Quê hương ta lúa nếp thêm nồng

    Tranh Ðông Hồ gà lợn nét tươi trong

    Mầu dân tộc sáng bừng trong giấy điệp

    Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

    Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

    Ruộng ta khô nhà ta cháy

    Chó ngộ một đàn

    Lưỡi dài lê xác máu

    Kiệt cùng ngõ thẳm vườn hoang

    Mẹ con đàn lợn chia lìa

    Âm dương chia lìa đôi ngả

    Ðám cưới chuột tưng bừng rộn rã

    Bây giờ tan tác về đâủ

    Ai về bên kia sông Ðuống

    Cho ta gửi tấm the đen

    Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên

    Những hội hè đình đám

    Trên núi Thiên Thai

    Trong chùa Bút Tháp

    Giữa huyện Lang Tài

    Gửi về may áo cho ai ?

    Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu ?

    Những nàng môi đỏ quết trầu

    Những cụ già bay tóc trắng

    Những em sột soạt quần nâu

    Bây giờ đi đâu về đâu ?

    Ai về bên kia sông Ðuống

    Có nhớ từng khuôn mặt búp sen

    Những cô hàng xén răng đen

    Cười như mùa thu tỏa nắng

    Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen

    Biển Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối

    Những nàng dệt sợi

    Ði bán lụa mầu

    Những người thợ nhuộm

    Ðồng tỉnh Huê Cầu

    Bây giờ đi đâu về đâu ?

    Bên kia sông Ðuống

    Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong

    Dăm miếng cau khô

    Mấy lọ phẩm hồng

    Vài xếp giấy đẫm hoen sương buổi sớm

    Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn

    Khua giầy đinh đập gẫy quán gầy teo

    Xì xồ cướp bóc

    Tan phiên chợ nghèo

    Lá đa lác đác trước lều

    Vài ba vết máu loan chiều mùa đông

    Ðêm buông sâu xuống giòng sông Ðuống

    Con là ai ?

    Con ở đâu về

    Hé một cánh liếp

    Con vào đây bốn bức tường tre

    Lửa đen leo lét soi tình mẹ

    Khuôn mặt bừng lên như vừng trăng

    Ngậm ngùi tóc trắng đương thầm kể

    Những chuyện muôn đời không nói năng

    Ðêm buông sâu xuống giòng sông Ðuống

    Ta mài lưỡi cuốc

    Ta uốn lưỡi liềm

    Ta vót gậy nhọn

    Ta rũa mác dài

    Ta xây thành kháng chiến ngày mai

    Lao xao hàng cây bụi chuối

    Im lìm miếu đổ chùa hoang

    Chập chờn đom đóm bay ngang

    Báo tin khủng khiếp

    Cho giặc kinh hoàng

    Từng từng tiếng súng vang vang

    Trong đêm khuya thoảng cung đàn tự do

    Thuyền ai thấp thoáng bến Hồ

    Xóa cho ta hết những giờ thảm thương

    Ðêm đi sâu quá giòng sông Ðuống

    Trại giặc bắt đầu run trong sương

    Dao lòe giữa chợ

    Gậy lùa cuối thôn

    Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn

    Ăn không yên

    Ðứng không vững

    Chúng mày phát điên

    Và quay cuồng như trên đống lửa

    Mà cánh đồng ta còn chan chứa

    Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân

    Xa xa tiếng hát về gần

    Thợ cấy đánh giặc dân quân cày bừa

    Tiếng bà ru cháu buổi trưa

    Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu

    “Cha con chết trận từ lâu

    Con càng khôn lớn càng sâu căm thù”

    Tiếng ai cấy lúa mùa thu

    Căm căm gió rét mịt mù mưa bay

    “Thân ta hoen ố vì mày

    Hồn ta thề với đất này dài lâu”

    Em ơi! đừng hát nữa lòng anh đau

    Mẹ ơi! Ðừng khóc nữa dạ con sầu

    Ðể con đi giết giặc

    Cánh đồng im phăng phắc

    Lấy áo nó mặc vào người

    Lấy súng nó đeo lên vai

    Ðêm đêm mỗi lần mở hội

    Trong lòng con chim múa hoa cười

    Vì nắng sắp lên rồi

    Chân trời xa rạng tỏ

    Sông Ðuống cuồn cuộn trôi

    Ðể cuốn phăng ra bể

    Bao nhiêu xương máu

    Bao nhiêu nước mắt

    Bao nhiêu mồ hôi

    Bao nhiêu bóng tối

    Bao nhiêu cuộc đời

    Bao giờ trở lại giòng sông Ðuống

    Ta lại tìm em

    Em mặc yếm trắng

    Em thắt lụa hồng

    Em đi trẩy hội non sông

    Cười me ánh nắng muôn lòng xuân sang

    ——————

    Nhắc về một kỷ niệm và sự tích Lá diêu bông khi ra đời

    Năm Hoàng Cầm lên 8 tuổi, từ tỉnh lỵ trọ học về thăm nhà bị “tiếng sét ái tình” khi gặp người con gái 16 tuổi tên Vinh. Tiếng sét ấy đã đi sâu vào trái tim, gần 70 năm sau, Hoàng Cầm tâm sự: “Trước mắt tôi, chị hiện ra sáng rực rỡ như một thiên thần. Ngay lập tức, hồn tôi bị chị chiếm đoạt đến đau điếng. Kể từ giây phút định mệnh ấy, tôi mê man chị chẳng còn biết trời đất, ất giáp, quên hết học hành, sách vở, suốt ngày chỉ ngong ngóng sang bên kia đường số 1, xê xế nhà tôi khoảng 20 mét, nơi thiên thần của tôi ngồi bán quán nghèo, phố nhỏ đìu hiu, tỉnh nhỏ… Tôi phải lòng chị, cứ thế giăng mắc tơ tình quanh chị suốt 4 năm trời, đến năm tôi 12 tuổi thì chị đi lấy chồng”.

    Một buổi chiều mùa đông… Chị Vinh đi về phía cánh đồng chiều còn trơ cuống rạ. Hoàng Cầm bí mật, lặng lẽ lần theo, thấy chị thẩn thơ tìm đồng chiều, lẩm bẩm một mình: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông, từ nay ta gọi là chồng…

     

    25 năm sau, năm 1959, bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm mới ra đời.

    Lá diêu bông

    Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
    Chị thẩn thơ đi tìm
    Đồng chiều,
    Cuống rạ.
    Chị bảo: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
    Từ nay ta gọi là chồng.
    Hai ngày em đi tìm thấy lá
    Chị chau mày:
    Đâu phải Lá Diêu Bông.
    Mùa Đông sau em tìm thấy lá
    Chị lắc đầu,
    Trông nắng vãn bên sông.
    Ngày cưới chị
    Em tìm thấy lá
    Chị cười xe chỉ cắm trôn kim.
    Chị ba con
    Em tìm thấy lá
    Xòe tay phủ mặt chị không nhìn.
    Từ thuở ấy
    Em cầm chiếc lá
    Đi đầu non cuối bể.
    Gió quê vi vút gọi.
    Diêu Bông hời…
    ới Diêu Bông!.

    Lá Diêu Bông được Phạm Duy viết thành ca khúc vào giữa thập niên 1980. Đầu thập niên 1990, ở trong nước, Trần Tiến phổ biến bài nầy mang âm điệu dân ca, bình dân. Trần Tiến không hiểu được hồn của bài thơ, ngộ nhận nhân vật, nhưng làm nổi tiếng tên tuổi Lá Diêu Bông:

    Lời ru buồn nghe mênh mông, mênh mông, sau lũy tre làng khiến lòng tôi xôn xao.
    Ngày lấy chồng em đi qua con đê, con đê mòn lối cỏ về, có chú bướm vàng bay theo em.
    Bướm vàng đã đậu cây mù u rồi, lấy chồng sớm làm gì để lời ru thêm buồn.
    Ru em, thời thiếu nữ xa xôi; còn đâu bao đêm trăng thanh, tát gàu sòng vui bên anh.
    Ru em, thời con gái kiêu sa, em đố ai tìm dược lá diêu bông, em xin lấy làm chồng…

    ———–

    Và nhắc đến Thi sĩ Hoàng Cầm, người ta lại nhớ ngay vỡ kịch thơ Hận Nam Quan,

    Ải Nam Quan

    ..”Con yêu quý,chớ xuôi lòng mền yếu.
    Gác tình riêng vỗ cánh trở về Nam.
    Con về đi ,tận trung là tận hiếu.
    Đem gươm mài bóng Nguyệt dưới khăn tang.
    Nếu trời muốn cho nước ta tiêu diệt.
    Thì lưới thù sẽ úp xuống đầu dân.
    Về ngay đi ,rồi chí nguyện công thành.
    Nghĩ đến Cha một phương trời ảm đạm.
    Chỉ nghiến răng vung kiếm chém quân thù.
    Trãi,con ơi tương lai đầy ánh sáng.
    Cha đứng đây trong suốt được ngàn thu.
    ..Nghe Cha nói tương lai đầy ánh sáng.
    Khiến lòng con bừng tinh một cơn mê.
    Quỳ lạy Cha,Cha lên đường ảm đạm.
    Rời Nam Quan theo gió con bay về.
    Ôi sung sướng Trời cao chưa nỡ tắt .
    Về ngay đi ghi nhớ hận Nam Quan.
    Bến Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt.
    Cha nguyện cầu con lấy lại giang san.
    (Hận Nam Quan-Hoàng Cầm)

    © haydanhthoigian



    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến